Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

Thơ Lục Bát:


Thể thơ này là thể thơ của dân tộc . Luật cũng rất đơn giản . Tác phẩm thơ tiêu biểu chính là truyện Kiều của cố thi hào Nguyễn Du
Thể thơ lục bát: 

Thơ lục bát tức là thể thơ có một câu 6 và một câu 8 tiếng , liên tiếp nhau và không quy định số cặp câu . 

+ Lục bát chính thể : 
+ Vần :

Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát. Tiếng thứ 8 của câu bát vần với tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo. 


Đưa tay hứng giọt nắng hồng
Ngậm ngùi vương vấn, còn 
không hẹn thề ?
Trầm luân một kiếp u 

Nhệp giăng khắp chốn tư 
bề ngổn ngang

trích Vip Oan hồn thiếu nữ

* Chú ý : tuy chữ thứ 6 và chữ thứ 8 của câu 8 đều là thanh bằng nhưng nếu chữ thứ 6 là thanh ngang thì chữ thứ 8 sẽ là thanh huyền và ngược lại .Như thế câu thơ sẽ đọc tự nhiên và thuận hơn.
+ Luật :

- Chữ thứ 2,6,8 ở mỗi câu đều là thanh bằng
- Chữ thứ 4 ở mỗi câu đều là thanh trắc 


Cung sầu cất tiếng nỉ non___B_______T______B

Hẹn thề xưa  người còn nhớ chi ?
_____B____T_______B______B
trích Vip Oan hồn thiếu nữ


+ Lục bát biến thể : 

- Lục bát vẫn có nhiều biến thể với những phá cách tài tình. Tôi xin giới thiệu với các bạn một số kiểu biến thể như sau :
1. Gieo vần ở chữ thứ 4 câu bát :

~ Câu lục vẫn giống như câu lục của lục bát chính thể. Chữ thứ tư có thể là thanh bằng hoặc thanh trắc.
~ Câu bát có kết cấu là Trắc -Bằng _Trắc_Bằng theo thứ tự các chữ thứ 2,4,6,8 . Vần được gieo ở chữ thứ 4 .



Con  mà đi ăn đêm
Đậu phải cành 
mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi 
nao
Tôi  lòng 
nào ông sẽ xáo măng

trích ca dao
Núi cao chi lắm núi ơi
Núi phủ mặt 
trời không thấy người thương.
trích ca dao


~ Hoặc chữ thứ 2 câu 6 là thanh trắc :

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa

trích Nguyễn Du

(Chữ thứ 2 trong câu 6 có thể là thanh trắc khi trong câu đó có tiểu đối : Khi tỉnh rượu - lúc tàn canh)


2.Gieo vần ở chữ thứ 2 câu bát :

~ Câu lục giống như câu lục của lục bát chính thể
~ Câu bát có kết cấu là Bằng _ Trắc _Bằng _ Bằng theo thứ tự 2 , 4 , 6 , 8. Vần được gieo ở chữ thứ 2


Chăn đơn nửa đắp nửa không
Cạn 
sông lở núi, ta đừng quên nhau

trích ca dao

3. Lục bát gieo vần trắc :

Trong kho tàng lục bát , số lượng lục bát được gieo vần trắc chiếm một tỉ lệ nhỏ. Đó là những cặp lục bát có khuynh hướng trở thành tục ngữ hoặc đã là một bài thơ hai câu hoàn chỉnh.


~ Câu lục có kết cấu Bằng_ Bằng_Trắc
~ Câu bát có kết cấu Bằng _ Trắc_ Trắc _Bằng.Vần được gieo ở chữ thứ 6 câu lục và chữ thứ 6 câu bát, hoặc chữ thứ 6 câu lục và chữ thứ 4 câu bát .



Tò  mà nuôi con 
nhện
Đến khi nó lớn nó 
quện nhau đi.trích ca dao


Vu lan những ngày vắng 
mẹ
Nén thầm giọt lệ, quạnh 
quẽ thinh không

trích _Kei_


Xa nhau biết  cách trở
Em nào có ngỡ lá úa duyên phai..


hoatigon208410
Một số liên vần các bạn có thể dùng và được xem là vần với nhau :

Ai : Oai , Ay , Ây , Uây
Ao : Au , Âu
At : Ac , Oat
En : Oen , eng
Eo : Oeo
Et : Ec
U : Ưu
Uc : Ut
Uông : uôn
.....

Nó bao gồm các từ có vần bắt đầu từ cùng một nguyên âm



Trên đây là những bài mà tôi sưu tầm và viết lại. Chúc các bạn có những bài lục bát hay để tiếp nối và phát huy thể thơ của dân tộc.
Thơ 6 chữ thể 4 câu :


Thể thơ này khá dễ dàng . Luật cũng rất đơn giản . Một khổ thơ chỉ có 4 dòng .Các bạn có thể làm nhiều khổ để thành một bài thơ dài.
Thể thơ 6 chữ : 
Luật : Ở mỗi câu thơ , chữ thứ 4 là bằng thì chữ thứ 6 là trắc , và ngược lại .
Vần :

+
1. Vần chéo

Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải 
yêu
Quê hương là gì hở
 mẹ
Ai đi xa cũng nhớ
 nhiều

trích : Đỗ Trung Quân

+
2. Vần ôm


Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em tựa sát lòng
 anh
Ta đi tới tận rừng 
xanh
Vớt cánh vông vàng bên suối
trích : Đinh Hùng
Thơ 5 chữ thể 4 câu :


Thể thơ này khá dễ dàng . Luật cũng rất đơn giản . Một khổ thơ chỉ có 4 dòng .Các bạn có thể làm nhiều khổ để thành một bài thơ dài.
Thể thơ 5 chữ : 
Luật : Ở mỗi câu thơ , chữ thứ 3 là bằng thì chữ thứ 5 là trắc , và ngược lại .
Vần :

+
1. Vần chéo

<> 1 vần với 3 , 2 vần với 4 : 

Em ơi dù nuối tiếc
Niềm tin cũng hết 
rồi
Ai trao lời tiễn 
biệt
Tình nghĩa đã phai
 phôi

trích : khungbotinhyeu

Anh chẳng phải là ai
Anh mãi là anh đấy
Anh vẫn sẽ thở dài...
Anh muôn đời vẫn vậy

trích : Rong_lua

<> 2 vần với 4 :

Mưa thu rồi em đến
Em đến tiễn chân ai
Chân ai hoài rụng vỡ
Cho giọt ngắn...giọt dài...!

trích : khungbotinhyeu


Gió thoảng vụt qua nhau
Nắng vương buồn trên mắt
Chẳng làm tỉnh cơn say
Ánh hừng đông góp nhặt


trích : khungbotinhyeu


+
2. Vần ôm

<> Luật bằng :

Anh về bên người ấy
Vui duyên mới cuộc
 đời
Anh để lại chơi 
vơi
Cho hồn em chết lặng
trích : Lotus Wu

<> Luật trắc :

Lá úa rụng đầy sân
Mưa thu rồi em nhé
Có tình yêu rất khẽ
Cũng buông chút sắc ngần


trích : khungbotinhyeu


+
3. Vần ba tiếng :Rất ít dùng

Đưa em về dưới mưa
Nói năng chi cũng
 thừa 
Phất phơ đời sương gió
Hồn mình gần nhau
 chưa
trích : Nguyễn Tất Nhiên
Thơ 4 chữ thể 4 câu :


Thể thơ này khá dễ dàng . Luật cũng rất đơn giản . Một khổ thơ chỉ có 4 dòng .Các bạn có thể làm nhiều khổ để thành một bài thơ dài.
Thể thơ 4 chữ : 
Luật : Ở mỗi câu thơ , chữ thứ 2 là bằng thì chữ thứ 4 là trắc , và ngược lại .
Vần :

+
1. Vần tiếp :
Phượng nở đỏ trời
Tháng năm rồi nhỉ
Lật trang nhật 
Tìm thuở thơ ngây
Kỷ niệm còn đây
Bạn bè đâu hết
Lối đời mỏi mệt
Còn trĩu hành trang... 


trích : Nhân gian

+
2. Vần chéo

<> 1 vần với 3 , 2 vần với 4 : 

Gió đùa thì gợn
Lẳng lặng vô tình
Mặc đời mơn trớn
Trong vắt làm thinh

trích : Juukapup

Hạt nắng vờn qua
Gam màu sót lại
Buông chút sắc nhòa
Cho hồn vương vãi 

trích : khungbotinhyeu


<> 2 vần với 4 : 

Ngày xưa chiếc bóng
Ướp mộng vào mây
Cho mùa nắng hạ
Mướt cặp vai gầy


trích : meongoc=dethuong

Cát nhớ trời thu
Chiều vàng rực nắng
Cơn gió xao lòng
Biển đêm vắng lặng

trích : meongoc=dethuong


+
3. Vần ôm

<> Luật bằng :

... Hồn khô tựa lá
Rơi rớt bên 
đường
Sầu, thảm, oán, 
thương
Cho người giẫm đạp ...
trích : FearieDragonPuck

<> Luật trắc :

Chiếc lá vàng rơi
Chao nghiêng vạt
 nắng
Ngoài sân vắng
 lặng
Hát khúc vơi đầy
trích : meongoc=dethuong

+
4. Vần ba tiếng :Rất ít dùng
Ôm giấc mộng xanh 
Ươm mãi chẳng 
thành 
Bởi tình nhân thế
Quá đỗi mong 
manh
TẬP LÀM THƠ LỤC BÁT 

Để bắt đầu tập làm thơ, các bạn nên học thơ LỤC BÁT trước . Thể thơ này là thơ chính tông của Việt nam nước ta. Khác với thơ của Tàu, vì thơ Tàu chỉ có vần cuối câu mà thôi . Trong khi đó thơ lục bát của dân tộc ta có vần ở giữa câu . 

Lục nghĩa là 6 . Bát nghĩa là 8 

Thơ Lục Bát nghĩa là câu thơ đầu có sáu chữ , câu thơ kế có tám chữ , câu tiếp theo là sáu chữ và câu kế tiếp phải là tám chữ và cứ như vậy cho đến khi không còn ý để viết bài thơ . 

Phần 1 
Khi làm thơ bạn phải biết luật Bằng Trắc của thơ 

Những chữ nào có dấu sắc ' , dấu hỏi ? , dấu ngã ~ và dấu nặng . 
thì người ta gọi là TRẮC . 

Ví dụ: Lá , Lả , Lã , Lạ 

Chữ nào có dấu huyền ` và chữ không có dấu nào hết người ta gọi là BẰNG 

Ví dụ: Là , La 

Luật của thơ Lục Bát thông thường được định như sau: 

b B t T b B 
b B t T b B t B 

Bằng viết tắc là B 
Trắc viết tắc là T 
Chữ b và chữ t không có viết hoa ở đây nghĩa là chữ này vần Bằng hay vần Trắc cũng được 


Bạn có thể nhớ Luật Bằng Trắc của Thơ Lục Bát như sau: 

Chữ thứ 1, 3, 5, 7 của câu Lục và câu Bát , không cần theo luật Trắc hay Bằng 
Chữ thứ 2, 6, 8 của câu Lục và câu Bát phải theo luật Bằng 
Chữ thứ 4 của câu Lục và câu Bát phải theo luật Trắc 

Ví dụ 2 câu thơ sau đây: 

Nhiễu ĐIỀU phũ LẤY giá GƯƠNG 
Người TRONG một NƯỚC phải THƯƠNG nhau CÙNG 

Những chữ viết HOA ở đây là theo Luật Bằng, Trắc 
Những chữ viết thường không cần theo luật 

Phần 2 
Khi làm thơ thì phải có ÂM VẦN thì bài thơ mới suôn 
Âm Vần là những phụ âm cuối của các chữ 

Ví dụ: 
ung ùng , ương ường , iu iều .v . v.. 


Vần trong câu thơ: 
Chữ cuối của câu Lục , phải vần với chữ thứ Sáu của câu Bát 
Chữ cuối của câu Bát đó, phải vần với chữ cuối của câu Lục kế tiếp 
cứ như vậy làm hoài . 

Ví dụ 2 câu thơ Lục Bát sau đây: 

Bầu ơi thương lấy bí CÙNG 
Tuy rằng khác giống nhưng CHUNG một giàn 

Chữ CÙNG và chữ CHUNG viết hoa ở đây có cùng âm vần đó các bạn 


Chú ý: Trong câu BÁT , chữ thứ 6 là KHÔNG DẤU thì chữ thứ 8 phải là dấu HUYỀN 
Nếu chữ thứ 6 la`dấu HUYỀN thì chữ thứ 8 phải là KHÔNG DẤU 
Khi làm thơ , ngoài luật Bằng Trắc và Âm Vần , còn có ý của lời thơ phải bổ túc cho nhau 

Đó là căn bản Luật Bằng Trắc và Âm Vần của thơ Lục Bát . 


Hôm nay tôi học làm thơ 
Ðọc xong đường luật muốn mờ mắt luôn 
Khi làm thơ phải cho suôn 
Luật thơ bằng trắc vô khuôn âm vần 
Làm thơ cũng phải chuyên cần 
Ngày đêm mài bút dần dần hay thôi 


Chúng ta cùng nhau tìm hiểu thêm một cách viết của thể thơ Lục Bát nữa , đó là cách viết thơ Lục Bát có câu đối . 

Vì thơ Lục Bát có hai câu ngắn dài không đều, cho nên khi người ta muốn đối, thì chỉ dùng tiểu-đối trong một câu, chứ không có bình-đối hai câu với nhau 

Theo luật thơ Lục Bát mà chúng ta đã học thì tiếng thứ 2 của câu Lục là vần bằng 
Song khi có tiểu đối thì tiếng thứ 2 trong câu Lục có thể là vần trắc 
Trong trường hợp này người ta để dấu phảy chính giữa để ngắt nhịp thơ ra làm hai , giống như câu thơ dưới đây 

Ví dụ: 

Hoa vẫn nở , nhụy chưa tàn 
Thì anh đây mãi muôn vàn yêu em 

chúng ta học thêm về một cách viết về Âm Vần của Lục Bát Biến Thể . Thể này dùng để uyển chuyển trong bài thơ, đôi khi đặt câu và chọn âm vần của câu bát hay bị kẹt . Theo lối lục bát biến thể này, cũng vẫn cho ta một âm điệu trầm bổng du dương . Thường thì ta thấy trong các câu ca dao hoặc câu đố ngày xưa hay dùng . 

Ví dụ câu đố sau đây: 

Trên lông mà dưới cũng LÔNG 
Tối lại nằm CHỒNG , thành đủ một đôi 

Trong 2 câu này ta thấy chữ cuối của câu Lục là LÔNG 
Có Âm Vần với chữ thứ 4 của câu Bát là CHỒNG 

Hoặc trong câu 2 ca dao dưới đây: 

Con Cò mày đi ăn đêm 
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao 

Trong 2 câu này chữ cuối của câu Lục là đêm 
Có Âm Vần với chữ thứ 4 của câu Bát là mềm 


Luật: 

b B t T b B 
t T b B t T b B 

Chữ B in đậm là Âm Vần đó các bạn 

t=trắc 
b=bằng 
T,B viết hoa là phải theo luật 
t,b nhỏ không cần theo luật 

Luật này chỉ thay đổi trong câu Bát mà thôi 

Chữ thứ 2 và chữ thứ 6 của câu bát phải theo luật trắc 

ÂM Vần: 

Chữ cuối của câu Lục 
Vần với chữ thứ 4 của câu Bát 

Để ý: 

Chữ thứ 4 vần bằng mang dấu huyền, vần với chữ cuối của câu Lục trên đó 
Chữ cuối câu bát, vần bằng không dấu 

Lưu ý: Trong câu 8 (bát) nếu các chữ thứ 1,3,5,7 giữ theo luật trắc thì khi đọc vần điệu sẽ hay hơn 


Thất Ngôn Tứ Tuyệt 

Thất Ngôn Tứ Tuyệt này, luật được lấy từ 4 câu cuối của thể thơ Thất Ngôn Bát Cú 

Thể thơ này chỉ có hai vần mà thôi, vần chữ cuối câu 2 và vần chữ cuối câu 4 (v) 

Luật Bằng: 

b-B-t-T-b B-T (đối câu dưới) 
t-T-b-B-t-T-B (v) (đối câu trên) 
t-T-b-B-b-T-T 
b-B-t-T-t-B-B (v) 

Luật Trắc: 

t-T-b-B-b-T-T (đối câu dưới) 
b-B-t-T-t-B-B (v) (đối câu trên) 
b-B-t-T-b-B-T 
t-T-b-B-t-T-B (v) 

Vd: 

Được dzạy làm thơ sướng quá đi 
Ngồi đây suy nghĩ chẳng ra gì 
Cái đầu muốn bể xin ai giúp 
Bé nguyện từ đây sẽ mãi ghi 
(Bút Tạ) 


TẬP LÀM THƠ THỂ LOẠI NGŨ NGÔN 

Chúng ta sẽ cùng nhau học về thể thơ Ngũ Ngôn . Thể thơ này cũng là một thể thơ đời Đường của Trung Hoa lúc xưa . Ngoài lối tám câu, thơ ngũ ngôn còn có thể làm dài hơn nữa . Về phần ý nghĩa và nội dung thì giống như thể thơ Thất Ngôn Bát Cú 
Nghĩa là hai câu đầu là mở đề 
Bốn câu giữa có đối với nhau và luận cho rộng ra 
Hai câu cuối tổng kết lại cả bài 

Luật có hai thứ, một thứ là luật bằng và một thứ là luật trắc , hễ chữ thứ hai trong câu thơ đầu là tiếng bằng, thì gọi là luật bằng , chữ thứ hai là tiếng trắc, thì gọi là luật trắc 
Hai luật ấy được định như sau: 

Ngũ ngôn tám câu luật bằng 

T-B-T-T-B(v) 
T-T-T-B-B(v) 
T-T-B-B-T --->đối câu 4 
T-B-T-T-B(v) 
T-B-B-T-T --->đối câu 6 
T-T-T-B-B(v) 
T-T-B-B-T 
T-B-T-T-B(v) 

Ve kêu nhắn hạ về 
Nhạn trắng rảo bờ đê 
Kiếm cá trên mương ruộng 
Tìm tôm dưới suối khe 
Cu gù nơi ngọn bắp 
Két réo chổ bông kê 
Phảng phất mùi hoa sứ 
Trong lành hoạt cảnh quê 

Ngũ ngôn tám câu luật trắc 

T-T-T-B-B(v) 
B-B-T-T-B(v) 
B-B-B-T-T--->đối câu 4 
T-T-T-B-B(v) 
T-T-B-B-T--->đối câu 6 
B-B-T-T-B(v) 
B-B-B-T-T 
T-T-T-B-B(v) 

Trống dứt báo tan trường 
Chia tay thấy vấn vương 
Thầy cô rời mỗi ngã 
*Bậu bạn giạt muôn phương 
Phượng nở đầy bên lối 
Ve kêu rộn cạnh đường 
Hè về chi giã biệt 
Lớp học lẫn người thương 

*(Bậu có nghĩa là người yêu gái) 

Các bạn hãy để ý những chữ thứ hai và chữ thứ tư trong các câu là luật định, chữ cuối của các câu 3,5,7 luôn luôn là luật trắc, chữ cuối của các câu 1,2,4,6,8 phải vần với nhau . 


Song Thất Lục Bát 

Thể thơ Song Thất Lục Bát và thể thơ Lục Bát là thơ chánh tông của dân tộc Việt Nam ta . 

Thể thơ này gồm có 2 câu đầu là 7 chữ , gọi là Song Thất 
Câu kế có 6 chữ rồi câu tiếp theo có 8 chữ , gọi là Lục Bát 

Luật Bằng Trắc 

Trong câu thất đầu, chữ thứ 3 là trắc, chữ thứ 5 là bằng và chữ thứ 7 là trắc 

Trong câu thất kế, chữ thứ 3 là bằng, chữ thứ 5 là trắc, và chữ thứ 7 là bằng . 

Các chữ còn lại 1, 2, 4 và 6 theo luật nào cũng được 

Hai câu lục bát tiếp theo thì giống luật lục bát chúng ta đã học 

Chữ thứ 1, 3, 5, 7 của câu Lục và câu Bát , không cần theo luật Trắc hay Bằng 
Chữ thứ 2, 6, 8 của câu Lục và câu Bát phải theo luật Bằng 
Chữ thứ 4 của câu Lục và câu Bát phải theo luật Trắc 

Vần 
Tiếng cuối của câu thất đầu là luật trắc phải vần với tiếng thứ 5 câu thất kế cũng là luật trắc 

Tiếng cuối của câu thất kế vần với tiếng cuối của câu lục 

Tiếng cuối của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát 

Tiếng cuối của câu bát vần với tiếng thứ 5 của câu thất tiếp theo 

và cứ như vậy mà tiếp tục làm cho đến khi hong còn ý để viết 

Khi làm thơ Song Thất Lục bát , ý nghĩa của 4 câu phải khớp với nhau, nếu làm dài hơn thì cả bài phải có cùng chung một ý 

Luật thể thơ song thất lục bát được định như sau: 

b t T b B t T(v) 
t b B t T(v) b B(v) 
b B t T b B(v) 
b B t T b B(v) t B(v) 

Chữ B và T lớn phải theo luật Bằng hay Trắc 

Chữ t và b nhỏ theo luật nào cũng được 

Chữ v là âm vần và phải theo cách gieo vần 

Lưu ý: 

Nếu chữ thứ 6 của câu thất đầu giữ theo luật trắc 

Và chữ thứ thứ 7 của câu bát cuối giữ theo luật trắc 

thì bài thơ sẽ có phần âm hưởng du dương theo trầm bổng và suôn hơn bình thường 

******* Thu về nhớ người ******* 

Rồi tháng Hạ không còn lắng đọng 
Tiết Thu về đắm mộng sầu tơ 
Ngồi buồn tôi chép vần thơ 
Hạ đi Thu đến hồn mơ nhớ người 

Nhìn cúc tím vàng tươi chợt nở 
Giống tình anh mới trở cơn say 
Yêu em hình bóng thon gầy 
Gío thu quện tóc xõa đầy bờ vai 

Trời sắp sáng ban mai ló dạng 
Cả đêm ngồi nhớ dáng em xưa 
Lòng anh biết nói sao vừa 
Yêu thầm trộm nhớ chưa quên bao giờ 

Anh ở đó luôn chờ đợi ước 
Mùa Thu nào sẽ bước bên nhau 
Cùng em ngắm cảnh rừng sau 
Lá vàng tím đỏ nhiều màu đẹp xinh 

chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về một lối viết có đối trong thể thơ song thất lục bát . Như chúng ta đã biết, song thất lục bát là thể thơ cứ hai câu 7 chữ rồi đến một câu 6 chữ và một câu 8 chữ 
Vì hai câu thất đầu đều có 7 chữ, nên chúng ta có thể làm bình đối hai câu với nhau 
Một điểm nữa chúng ta cần để ý là câu thất đầu khi nào không có đối với câu thất dưới, thì tiếng thứ 3 trong câu thất đầu có thể là vần bằng 

Luật thể thơ song thất lục bát được định như sau: 

b t T b B t T(v) 
t b B t T(v) b B(v) 
b B t T b B(v) 
b B t T b B(v) t B(v) 

Chữ B và T lớn phải theo luật Bằng hay Trắc 

Chữ v là âm vần và phải theo cách gieo vần 

Luật Bằng Trắc 

Trong câu thất đầu, chữ thứ 3 là trắc, chữ thứ 5 là bằng và chữ thứ 7 là trắc 

Trong câu thất kế, chữ thứ 3 là bằng, chữ thứ 5 là trắc, và chữ thứ 7 là bằng 

Hai câu lục bát tiếp theo thì giống luật lục bát chúng ta đã học 

Vần 

Tiếng cuối của câu thất đầu là luật trắc phải vần với tiếng thứ 5 câu thất kế cũng là luật trắc 

Tiếng cuối của câu thất kế vần với tiếng cuối của câu lục 

Tiếng cuối của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát 

Tiếng cuối của câu bát vần với tiếng thứ 5 của câu thất tiếp theo 

và cứ như vậy mà tiếp tục làm cho đến khi không còn ý để viết 

Vần chính của vần trắc 

ất đi với ất 

ước đi với ước ... và những chữ có cùng vần trắc như vậy gọi là vần chính của vần trắc 

Vần thông của vần trắc 

é, ị --> đi chung với nhau được 
ổ, ũ 
ọ, ủa 
ĩa, uệ 
áo, iễu 
ói, ủi 
ác, ước 
ấc, ực 
ạm, ợm 
ặn, ẩn 
óng, úng 
ật, ắt 
ật, ứt 
út, uốt 


Thơ có đối khi coi khó học 
Luật không vần lúc đọc găng nghe 
Làm thơ thì phải có vè 
Vần thông đúng luật thì bè mới hay 


Thất Ngôn Bát Cú Luật Bằng 

Chữ....1..2..3..4..5..6..7 
Câu 1: tb-B-tb-T-tb-B-B(v) 
Câu 2: tb-T-tb-B-tb-T-B(v) 
Câu 3: tb-T-tb-B-.B-T-T----(đối câu 4) 
Câu 4: tb-B-tb-T-tb-B-B(v)(đối câu 3) 
Câu 5: tb-B-tb-T-tb-B-T----(đối câu 6) 
Câu 6: tb-T-tb-B-tb-T-B(v).(đối câu 5) 
Câu 7: tb-T-tb-B-B-.T-T 
Câu 8: tb-B-tb-T-tb-B-B(v) 

*******Xuân Tàn****** 
Mùa đông lạnh lẽo đã dần tan 
Nắng ấm xuân sang bướm chập chờn 
Trước cổng lưa thưa vài bụi trúc 
Bên thềm một dãy mấy cành lan 
Hai câu đối đỏ treo nơi cửa 
Bốn bánh chưng xanh để cạnh bàn 
Vạn cánh hoa mai rơi dưới đất 
Như đang báo hiệu ánh xuân tàn 

BT 

Thất Ngôn Bát Cú Luật Trắc 

Chữ....1..2..3..4..5..6..7 
Câu 1: tb-T-tb-B-tb-T-B(v) 
Câu 2: tb-B-tb-T-tb-B-B(v) 
Câu 3: tb-B-tb-T-B-B.-T----(đối câu 4) 
Câu 4: tb-T-tb-B-tb-T-B(v)(đối câu 3) 
Câu 5: tb-T-tb-B-tb-T-T----(đối câu 6) 
Câu 6: tb-B-tb-T-tb-B-B(v)(đối câu 5) 
Câu 7: tb-B-tb-T-B-B.-T 
Câu 8: tb-T-tb-B-tb-T-B(v) 

*******Cuội Nga Mơ Mộng****** 
Một tối đêm kia nguyệt sáng mờ 
Hồn tôi mãi miết nghĩ vần thơ 
Nhìn trăng Chú Cuội như vui vẻ 
Thấy bóng Hằng Nga giống khóc cơ 
Chú Cuội đêm kia nằm mớ mộng 
Hằng Nga sáng nọ đứng màng mơ 
Bao nhiêu áng mộng theo mây khói 
Rớt bút buông thơ, ngũ ngáy khò 

BT 

V=là Âm Vần 
T=lớn là phải theo luật Trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng) 
B=lớn phải theo luật Bằng ( dấu huyền và chữ O dấu ) 
tb=nhỏ là luật Trắc hay Bằng (nhưng nhớ phải theo niêm luật) 

(Source: http://www.queviet.net/forum/)

Phụ lục bài 10:


Thơ lục bát tứ tuyệt cách điệu thành thơ tự do


Nhớ


Huế giờ tím nhớ
Tím thương
Em đi tím cả bốn phương nắng chiều.


Lá vàng
Hỏi
Rụng bao nhiêu
Để tôi nối lá
Thả diều
Tìm em?


(Giải nhất Thơ Nam Định Online 2007)


Thanh Trắc Nguyễn Văn



--------------------------------------------------------------------------
Bài thơ Nhớ nếu viết theo dạng tứ tuyệt lục bát sẽ là :


Nhớ (bản lục bát)


Huế giờ tím nhớ tím thương
Em đi tím cả bốn phương nắng chiều
Lá vàng hỏi rụng bao nhiêu
Để tôi nối lá thả diều tìm em?


(Tập thơ Quà Tặng Mùa Đông - NXB Văn Nghệ 2007)


Thanh Trắc Nguyễn Văn


nếu viết như trên rõ ràng âm điệu của bài thơ sẽ bị sút giảm rất nhiều



Làng tôi đất bán sạch rồi


Làng tôi đất bán sạch rồi
 
Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông…
Ông tôi mỗi sáng lưng còng
Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”
Còn cha ngơ ngác ậm ừ
Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên
Mẹ buồn thao thức đêm đêm
Hỏi đàn cò trắng sao quên không về?


Làng tôi giờ đã hết quê
 
Quán bia với quán cà phê chen đầy
Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa
Con trâu thuở ấy đi bừa
Bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm…
Bàng hoàng nắng quái chiều hôm
Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn…


(Giải nhất Thơ lục bát Văn Hóa Nghệ Thuật Đất Đứng năm 2009-2010)
 


Thanh Trắc Nguyễn Văn
Phụ lục bài 10:


Thơ lục bát


Người hàng xóm


Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.


Giá đừng có giậu mùng tơi
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Có con bướm trắng thường sang bên này...


Bướm ơi, bướm hãy vào đây
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi
Chả bao giờ thấy nàng cười
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên


Mắt nàng đăm đắm trông lên
Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi
Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi
Tôi buồn tự hỏi: hay tôi yêu nàng?


Không, từ ân ái nhỡ nhàng
Tình tôi than lạnh gio tàn làm sao!
Tơ hong nàng chả cất vào
Con bươm bướm trắng hôm nào cũng sang.


Mấy hôm nay chẳng thấy nàng
Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong
Cái gì như thể nhớ mong?
Nhớ nàng, không, quyết là không nhớ nàng


Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa.
Tầm tầm giời cứ đổ mưa
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm!


Cô đơn buồn lại thêm buồn
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi ?


Hôm nay mưa đã tạnh rồi
Tơ không hong nữa, bướm lười không sang
Bên hiên vẫn vắng bóng nàng
Rưng rưng tôi gục xuống bàn... rưng rưng
Nhớ con bướm trắng lạ lùng
Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng
Hỡi ơi bướm trắng tơ vàng
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi
Đêm qua nàng đã chết rồi
Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng
Hồn trinh còn ở trần gian
Nhập về bướm trắng mà sang bên này.


Nguyễn Bính

Bài 10:


* Thơ Lục Bát


- Thơ lục bát là thể thơ đặc biệt của Việt Nam, bao gồm một câu 6 chữ và một câu 8 chữ. Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát. Tiếng thứ 8 của câu bát lại tiếp tục vần với tiếng thứ 6 của câu lục.


Ví dụ:
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn  cả hai.
Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Tình trong như đã mặt ngoài còn e.




Ngoài ra cũng cần phải chú ý đến thanh phối hợp trong câu. Lấy lại ví dụ trên sẽ thấy.
2 4 6
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa
........bằng........trắc........bằng
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai
........bằng....trắc......bằng...bằng


Đây là căn bản của thơ lục bát, nói riêng với các bạn bắt đầu làm thơ, phần thanh làm cho câu thơ nhịp nhàng hơn, vần làm cho câu có nhạc điệu, hay hơn, mọi người không cần cứ phải chăm chăm vào nó quá... sẽ quên mất ý thơ đấy. Cứ đọc sao thấy êm tai, xuôi câu là được.


- Ngoài ra còn một số ngoại lệ khác trong thơ lục bát: tiếng 6 của câu lục có thể vần với tiếng 4 của câu bát.


Ví dụ:
Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em.


Mọi người chú ý ở đây, trong câu bát thanh không còn là bằng trắc bằng như ở ví dụ trên mà đổi lại là trắc bằng trắc, và ngắt nhịp ở giữa câu.
2 4 6


Đêm nằm gối gấm không êm
...... bằng.....trắc.........bằng
Gối lụa không mềm bằng gối tay em.
.....trắc.........bằng........trắc
Phụ lục bài 9 :


Vè cho và trả


Chơi con quốc
Con quốc cho giò
Chơi con bò
Con bò cho nhau
Chơi buồng cau
Buồng cau cho trái
Chơi con gái
Con gái cho hun
Chơi bụi môn
Bụi môn cho bọc
Chơi trường học
Trường học cho bút
Chơi bông bụt
Bông bụt cho hoa
Chơi ông già
Ông già cho răng
Chơi mặt trăng
Mặt trăng cho Cuội
Chơi cơm nguội
Cơm nguội cho no
Chơi cái go
Cái go cho vãi
Chơi cây cải
Cây cải cho dưa
Chơi thợ cưa
Thợ cưa cho ván
Chơi chúng bạn
Chúng bạn cho tiền
Chơi thiền liền
Thiền liên cho thơm
Chơi cái nơm
Cái nôm cho cá
Chơi cái ná
Cái ná cho chim
Chơi cây kim
Cây kim cho chỉ
Chơi con khỉ
Con khỉ cho bần
Chơi ông thần
Ông thần cho bánh


Trả bánh ông thần
Trả bần con khỉ
Trả chỉ cho kim
Trả chim cho ná
Trả cá cho nơm
Trả thơm thiền liền
Trả tiền chúng bạn
Trả ván thợ cưa
Trả dưa cho cải
Trả vãi cho go
Trả no cơm nguội
Trả cuội mặt trăng
Trả răng ông già
Trả hoa bông bụt
Trả bút trường học
Trả bọc bụi môn
Trả hun con gái
Trả trái buồng cau
Trả nhau con bò
Trả giò con quốc




Vè các loại rau

Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè các rau.
Thứ ở hỗn hào,
Là rau ngành ngạnh.
Trong lòng không chánh,
Vốn thiệt rau lang.
Đất ruộng bò ngang,
Là rau muống biển.
Quan đòi thầy kiện
Bình bát nấu canh.
Ăn hơi tanh tanh,
Là rau dấp cá.
Có cha có mẹ,
Rau má mọc bờ.
Thò tay sợ dơ,
Nó là rau nhớt.
Rau cay như ớt,
Vốn thiệt rau răm.
Sống trước ngàn năm,
Là rau vạn thọ.
Tánh hay sợ nợ,
Vốn thiệt rau co.
Làng hiếp chẳng cho,
Nó là rau húng.
Lên chùa mà cúng,
Vốn thiệt hành hương.
Giục ngựa buông cương,
Là rau mã đề.




Vè chim chóc

Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè chim chóc
Hay moi hay móc
Vốn thiệt con dơi
Thấy nắng thì phơi
Là con diệc mốc
Lặn theo mấy gốc
Là chim thắng chài
Lông lá thật dài
Là con chim phướng
Rành cả bốn hướng
Là chim bồ câu
Giống lặn thật lâu
Là con cồng cộc
Ăn táp sồng sộc
Là con chim heo
Ham đậu cheo leo
Là chim lá rụng
Cắm đầu muốn thụng
Là chim thầy bói
Hay ăn hay nói
Ấy thật chim quyên
Vừa đứng vừa biên
Là chim học trò
Rủ nhau đi mò
Là con chim Ốc
Gõ mõ lốc cốc
Là chim thầy chùa
Tụng kinh bốn mùa
Là chim bìm bịp
Chạy theo không kịp
Là chim hít cô
Bắt mẹ xẻ khô
Là chim điên điển
Không ăn ngoài biển
Là chim le le.
Bài 9:


Vè: 


- Thể loại này thuộc loại khá dễ cho tất cả mọi người, chỉ cần bạn chú ý một chút về cách thức là có thể làm được ngay. Vè là thể loại đọc lên có nhịp điệu rộn ràng, vui tai.


- Cách gieo vần trong vè là vần tiếp.
Ví dụ: Dưới đây là bài thơ Vè câu cá của Tây Cuồng


Vè con cá 


Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè loài cá.
No lòng phỉ dạ,
Là con cá cơm.
Không ướp mà thơm,
Là con cá ngát.
Liệng bay thoăn thoắt,
Là con cá chim.
Hụt cẳng chết chìm,
Là con cá đuối.
Lớn năm nhiều tuổi,
Là cá bạc đầu.
Đủ chữ xứng câu,
Là con cá đối.
Nở mai tàn tối,
Là cá vá hai.
Trắng muốt béo dai,
Là cá úc thịt.
Dài lưng hẹp kích,
Là cá lòng tong.
Ốm yếu hình dong,
Là con cá nhái.
Thiệt như lời vái
Là con cá linh.
Cá kình, cá ngạc
Cá lác, cá dưa.
Cá voi, cá ngựa,
Cá rựa, cá dao.
Úc sào, bánh lái,
Lăn hải, cá sơn.
Lờn bơn, thác lác,
Cá ngác, dày tho.
Cá rô, cá sặt,
Cá sát, cá tra.
Mề gà, dải áo,
Cá cháo, cá cơm,
Cá mờn, cá mớn,
Sặc bướm, chốt hoa.
Cá xà, cá mập,
Cát tấp, cá sòng.
Cá hồng, chim diệp,
Cá ép, cá hoa.
Bống dừa, bống xệ,
Cá be học trò.
Cá vồ, cá đục,
Cá nục, lù đù.
Cá thu trên lá,
Bạc má bạc đầu.
Lưỡi trâu hồng chó,
Là cá lành canh.
Chim sành cá biếc,
Cá giếc, cá mè.
Cá trê, cá lóc,
Cá nóc, thòi lòi.
Chìa vôi, cơm lạt,
Bống cát, bống kèo.
Chim heo, cá chét,
Cá éc, cá chuồng.
Cá duồng, cá chẽm,
Vồ đém, sặc rằn.
Mòi đường, bống mú,
Trà mú, trà vinh.
Cá hình, cá gộc,
Cá cốc, cá chày
Cá dày, cá đuối,
Cá đối, cá kìm,
Cá chim, cá vược,
Cá nược, cá ngừ.
Cá bui, cá cúi,
Cá nhái, bã trầu
Cá nàu, cá dảnh,
Hủng hỉnh tơi bời.
Cá khoai, ốc mít,
Cá tích nàng hai.
Cá cầy, cá cháy,
Cá gáy, cá ngàn.
Trà bần, cá nái,
Nóc nói, cá hô.
Cá ngừ, mang rổ,
Cá sủ, cá cam.
Cá còm, cá dứa,
Cá hố, cá lăn.
Cá căn, cá viễn,
Rô biển lép xơ.
Cá bơ, chim rắn,
Cá phướng, rồng rồng
Trên bông trao tráo,
Cá sọ, cá nhồng.
Tòng tong, mộc tích,
Úc phịch, trê bầu.
Bông sao, bông trắng,
Càn trảng xanh kỳ.
Cá he, cá mại,
Mặt quỷ, cá linh.
Cá chình, ốc gạo,
Thu áo, cá kè,
Cá ve lẹp nấu,
Từ mẫu thia thia,
Cá bè trên mễ,
Đuôi ó bè chan.
Nóc vàng, cá rói,
Cá lủi, con cù.
Rô lờ, tra dấu,
Trạch lấu, nhám đào.
Tra dầu, cá nhám,
Úc núm, cá leo.
Cá thiếc, cá suốt,
Cá chốt, cá phèn.
Cá diềng, cá lúc,
Cá mực, cá mau
Chim câu, cá huột
Sọc sọc cá lầm.
Cá rầm, cá thiểu,
Nhám quéo chim gian.
Cá ong, cá quít,
Cá kết thiền nôi.
Bông voi út hoát,
Cá chạch, cá mòi.


Con cá nhà giàu là con cá Nục
Chặt ra nhiều khúc là con cá Chình
Trai gái gập ghình là con cá Ve
Chồng nói vợ nghe là con cá Mát
Hết tiền hết bạc là con cá Cờ
Tối ngủ hay rờ là con cá Ngứa
Ăn ngày ba bữa là con cá Cơm
Ăn chưa kịp đơm là con cá Hóc
Dắt nhau lên dốc là con cá Leo
Bụng thở phèo phèo là con cá Nóc
Có gai trên óc là con cá Ngạch
Đủ vi đủ cánh là con cá Chuồn
Dắt nhau vô buồng là con cá Ngô
Ăn cây lót ổ là con cá Chim
Dắt nhau đi tìm là con cá Lạc
Đi theo bạn hát là cá Nòng Đầu.
Ăn sụp phênh sau là con cá Mối
Bỏ vô trong cối là con cá Chày
Dở chẳng nổi tay là con cá Liệt
Đi theo đoàn xiếc là con cá Căn
Già đã rụng răng là con cá Móm
Gái đi cua trai là con cá Ngựa


Vè con dao 


Nhà anh bất phú bất bần
Có con dao đoản hộ thân tháng ngày
Con dao anh dày
Dài vừa năm tấc
Khi mài đã sắc
Phá lở rú rừng hoang
Cũng biện đủ cỗ cho làng
Cũng no ngày đủ tháng
Đèn có khêu mới rạng
Ngọc bất trác bất thành
Ngẫm như con dao anh
Nội trần gian không ai có
Nội dưới trời không ai có
Con dao anh quay một phát
Bằng rựa phát tối ngày
Than hai bồ đã đầy
Còn trong lò đang chứa
Kẻ đeo rìu đeo rựa
Thua dao anh liền liền
Than anh bán năm tiền
Than rựa rìu bốn rưỡi
Từ đám ma cho đến đám cưới
Đến cả đám lợp nhà
Cũng mượn con dao ta
Chẳng sót nhà nào mà kể
Không cho thì ra tệ
Nói cái bụng hẹp hòi
Cầm lấy con dao rồi
Chỉ gật đầu gật cổ
Khen con dao chưa từng chộ
Hỏi con dao anh rèn
Độ bao nhiêu tiền
Con dao tôi rèn
Gia Long trị vì khai sáng
Sắt tây năm lạng
Bạc mươi nén tiền công
Con dao tôi sắc vô cùng
Đốn trăm cây cũng ngã
Chặt ngàn cây cũng ngã
Cho nên thiên hạ
Đều rèn theo kiểu dao này
Trước dùng việc hàng ngày
Sau Vệ Quốc Bình Tây
Chặt quân thù như chém chuối



Bài 8:


Các thể loại thơ



* Thơ dân gian Việt Nam (ca dao, tục ngữ): Là các thể loại được sử dụng nhiều nhất, khá dễ trong dân gian. Hầu như già trẻ lớn bé, trai gái, giàu nghèo... cứ là người Việt Nam là phải biết.


1. Thơ lục bát.


2. Song thất lục bát.


3. Vè.


*Thơ Đường:


4. Thơ cổ phong: (ngũ ngôn, thât ngôn)


5. Thơ Đường luật: (ngũ ngôn, thất ngôn)


6. Thơ tuyệt cú (hay còn gọi là tứ tuyệt).


(ở đây, trong mỗi phần của thơ có thể sẽ chia làm nhiều loại).


*Thơ mới:


7. Thơ bốn chữ.


8. Thơ năm chữ.


9. Thơ sáu chữ.


10. Thơ bảy chữ.


11. Thơ tám chữ.


12. Thơ tự do (số chữ tùy ý)



Bài 7:


Các ghi chú về thanh, âm và vần: Đây là phần căn bản, quan trọng nhất mà người làm thơ cần phải biết... 



* Thanh: Ở phần này, mọi người chỉ cần ghi nhớ là có hai loại, đó là thanh bằng và thanh trắc.


1. Thanh bằng: bao gồm các chữ không mang dấu hay mang dấu huyền.


Ví dụ:
Con mèo quào con cào cào <--- tất cả đều mang dấu huyền, tất cả đều là thanh bằng.
Ngang ngang như con cua <--- tất cả đều không dấu, tất cả đều là thanh bằng.




2. Thanh trắc: bao gồm các chữ mang dấu sắc, hỏi, ngã, nặng.


Ví dụ:
Hết cả nước lẫn cái <---- tất cả đều là thanh trắc


*Vần:


1. Vần bằng: là các từ có cùng âm và đều là thanh bằng.


Ví dụ:
Anh không ngủ được ư anh?
Để em mở quạt quấn mành lên cho.
Chữ anh và mành ở đâu đều là thanh bằng, và đều cùng âm.




2. Vần trắc: là các từ có cùng âm và đều là thanh trắc.


Ví dụ:
Gia tài em chỉ có bàn tay,
Em trao tặng cho anh từ ngày ấy,
Những năm tháng cùng nhau anh chỉ thấy,
Quá khứ dài là mái tóc em đen.
(Bàn Tay-Xuân Quỳnh.)
Chữ ấy và thấy ở đây đều có thanh trắc và cùng âm.


3. Tiếng bằng và tiếng trắc không vần với nhau.


Ví dụ: thanh không vần với thánh; (lả) lơi không vần với (tiến) tới.


*Gieo vần: phần này sẽ nói thêm chi tiết khi vào từng thể loại thơ.


1. Vần chéo. 


Ví dụ:
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau-rạn vỡ
(Thuyền và Biển-Xuân Quỳnh)


Vần xanh và đỏ chéo nhau


2. Vần ôm. 


Ví dụ:
Tình giờ đã hết
Khi chàng ra đi
Tình xưa phân ly
Nụ cười cũng chết


Vần đỏ ôm vần xanh vào giữa


3. Vần ba tiếng.


Ví dụ:
Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.
Tấc gang tay họa thơ không dứt,
Gần gụi cung dương lá vẫn lành.
(Duyên kỳ ngộ-Hồ Xuân Hương.)


3 vần đỏ


4. Vần giữa câu và cuối câu.


Ví dụ:
Kiều càng sắc sảo mặn 
So bề tài sắc lại  phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
(Truyện Kiều-Nguyễn Du)


Vần giữa câu (yêu vận) và vần cuối câu (cước vận) thường có trong thơ lục bát



Phụ lục Bài 6:


Các bạn lưu ý đây chỉ là các bài hướng dẫn cách làm thơ chứ không dạy làm thơ. Nếu làm thơ ai cũng dạy được thì tất cả các tiến sĩ văn,thạc sĩ văn,giảng viên văn và giáo viên văn đều đã trở thành nhà thơ hết! Các bạn cần phân biệt để tránh bị lầm lẫn:


1. Người biết làm thơ
2. Người làm thơ được
3. Tác giả thơ
4. Nhà thơ.


Từ xưng 
nhà thơ cũng vậy. Có loại "nhà thơ tự phong", "nhà thơ do bạn bè gọi", "nhà thơ của câu lạc bộ thơ", "nhà thơ do người ta lịch sự gọi"... Nói chung bây giờ ra đường ai cũng đều có thể tự xưng mình là "nhà thơ cả".


Nếu chú ý các bạn sẽ thấy nhiều nhà thơ thật sự họ gọi nhau rất cẩn trọng, có phân biệt hẳn hoi. "Bạn thơ" là người có nhiều sáng tác nhưng thơ chưa hay, "tác giả" là người có tác phẩm nổi tiếng nhưng thơ chưa đủ nhiều để trở thành nhà thơ. Còn "nhà thơ" không phải là từ do mình tự phong cho mình, "nhà thơ" phải là từ do các công văn của Hội nhà văn (gồm những người sáng tác văn học chuyên nghiệp) gọi khi gởi cho các hội viên, hoặc những người không vào Hội nhà văn nhưng vẫn xứng đáng là nhà thơ (ví dụ nhà văn Lý Lan, nhà thơ Thái Thanh Nguyên,...). Và ngoài đời nhiều nhà thơ thật sự vẫn có thói quen khiêm tốn tự gọi mình là tác giả, hoặc người sáng tác thơ.


Có một câu chuyện khá vui là khi dự đám cưới của một nhà thơ nữ, anh Văn do đến trễ nên khi đến ngồi vào một bàn gồm 10 người. Họ hỏi anh Văn, anh Văn bảo anh Văn là giáo viên dạy Vật Lý. Còn 9 người kia đều tự xưng là nhà thơ cả, nhưng anh Văn nhìn mãi chẳng thấy một ai quen, dù là chỉ gặp qua một lần! Còn 9 bút hiệu của họ anh Văn cũng chưa hề nghe hoặc được đọc bao giờ!


Muốn làm thơ hay các bạn phải tự học. Đã rất nhiều người hỏi anh Văn bí quyết để có thơ đăng báo.


Hỏi: mình thì chưa bao giờ có thơ được đăng báo dù đã gửi cho khá nhiều tờ báo, anh Thanh Trắc Nguyễn Văn có bí quyết nào không chỉ mình với (mình chỉ được đăng báo ở trường mà thôi)(Nguyệt Chi - Blogger My Opera)


Trả lời:
Tại sao bạn không hỏi phương pháp "học" mà chỉ lo hỏi bí quyết?
Thật ra không có bí quyết gì cả mà chỉ có phương pháp "học" mà thôi


1.Bạn hãy "học" thơ của những nhà thơ đã thành danh
2.Báo nào không đăng thơ của bạn,bạn hãy "học" những bài thơ đã được đăng trên báo đó để rút kinh nghiệm cho sáng tác của mình
3.Thường xuyên nghiền ngẫm những lời bình của những bài thơ hay
4.Đừng bao giờ nghe lời bạn bè "khen" thơ của bạn hay! Nếu thơ bạn được đăng báo cũng có nghĩa là thơ của bạn đã được những người biên tập có "chuyên môn về văn học" công nhận là hay rồi đó
Bài 6:


QUI TẮC LÀM THƠ


1/ TIẾNG BẰNG TIẾNG TRẮC 


Theo chữ Quốc Ngữ , thì Tiếng BẰNG là những tiếng có giọng êm dịu và có thể đọc kéo dài ra được như chữ không có dấu gọi là giọng bằng cao và chữ có dấu huyền gọi là giọng bằng thấp .


Tiếng TRẮC là những tiếng có giọng ngắn ngủn , không đọc dài ra được, như những tiếng có chữ C , CH , P , T đứng ở cuối tiếng và những tiếng có dấu sắc, ngã , hỏi, nặng .


Vì âm hưởng tiếng Bằng và tiếng Trắc , khác nhau như thế cho nên phải xếp những tiếng ấy cho khéo thì mới tạo thành ra một thứ âm điệu nghe hay và dễ đọc . Nếu không , thì đọc lên sẽ sượn và nghe chướng tai


2/ TIẾNG BỔNG TIẾNG TRẦM 


Trong những tiếng BẰNG và tiếng TRẮC , tiếng nào cũng có thứ tiếng BỔNG và tiếng TRẦM .


Tiếng BỔNG trong tiếng Bằng là những tiếng KHÔNG có dấu huyền


Ví dụ: chữ La


Tiếng TRẦM là những tiếng Có dấu huyền .


Ví dụ: chữ Là


Khi ta đọc chữ La và chữ Là tuy hai chữ cùng là tiếng bằng, song hai chữ đó có âm giọng khác nhau, chữ Là nghe thấp giọng hơn chữ La




Tiếng BỔNG trong tiếng Trắc là những tiếng có dấu sắc và dấu ngã


Ví dụ: Lá , Lã


Tiếng TRẦM là những tiếng có dấu hỏi và đấu nặng


Ví dụ: Lả , Lạ


Nếu chúng ta biết sắp xếp đúng tiếng Trầm và tiếng Bổng thì bài thơ nghe du dương hơn .
Dầu vậy khi làm thơ Lục Bát thì câu Bát chữ thứ 6 là tiếng Trầm thì chữ thứ 8 phải là tiếng Bổng
Hoặc nếu trong câu bát chữ thứ 6 là tiếng Bổng thì chữ thứ 8 phải là tiếng Trầm, nói cho dễ hiểu hơn là


Trong câu BÁT , chữ thứ 6 là KHÔNG DẤU thì chữ thứ 8 phải là dấu HUYỀN
Nếu chữ thứ 6 la`dấu HUYỀN thì chữ thứ 8 phải là KHÔNG DẤU
Đó là luật định cho câu thơ Lục Bát


3/VẦN 


Làm thơ thì phải có vần thì đọc nghe êm và trôi chảy . VẦN nghĩa là tiếng này với tiếng kia có cùng âm-hưởng . Tiếng bằng vần với tiếng bằng , tiếng trắc vần với tiếng trắc, khi hai tiếng đồng một giọng phát âm thì thành vần được . Hai tiếng không đúng vần với nhau thì âm điệu sẽ lạc như vậy là trái luật thơ


a) Những tiếng có chữ nguyên âm như : a , e , ê , i , o , ô , ơ , u , ư đứng ở cuối tiếng, thì theo tiếng bằng tiếng trắc mà vần với tiếng khác cũng có một chữ nguyên-âm đồng loại đứng ở cuối tiếng


B) Những tiếng có chữ phụ âm như: c , ch , m , n , ng , nh , p , t đứng cuối tiếng, thì nhất định phải vần với tiếng khác cũng có phụ-âm đồng loại đứng ở cuối tiếng


Vần chia ra làm hai loại : vần bằng và vần trắc .


Vần bằng là những tiếng bằng vần với nhau, vần trắc là những tiếng trắc vần với nhau


Mỗi loại vần ấy lại chia ra làm hai thứ vần, là vần chính và vần thông


A/ Vần chính 


Vần chính của vần bằng - là những tiếng cùng đồng một âm vần với nhau như : ơ vần với ơ , ân vần với ân hay uôn vần với uôn


Ví dụ:


Hôm nay tôi học làm thơ
Ðọc xong đường luật muốn mờ mắt luôn
Khi làm thơ phải cho suôn
Luật thơ Bằng Trắc vô khuôn Âm Vần






Vần chính của vần trắc- là những tiếng cùng đồng một âm vần trắc với nhau như : ở vần với ở , ước vần với ước


Ví dụ:


Nhìn cúc tím vàng tươi chợt nở
Giống tình anh mới trở cơn say


Anh ở đó luôn chờ đợi ước
Mùa Thu nào sẽ bước bên nhau




B/ Vần thông 


Vần thông là những tiếng tuy không cùng một âm như các vần chính , nhưng có thể hợp để vần với nhau , do nơi sự vận dộng của môi và lưỡi khi phát âm nghe gần như giống nhau nên người ta gọi là vần thông
Sau đây là những vần ta có thể thế vô cho vần để được linh hoạt hơn trong khi làm thơ .


1/ Vần thông của vần bằng
a) những vần thông có chữ nguyên-âm đứng ở cuối tiếng


a, ơ --> thông với nhau được


Vidụ :


Vần thông ghép chữ như là
Đi chung được với chữ tờ này đây


Ví dụ: ơ, ư


Ơ Ư cũng dễ lắm cơ
Bây giờ bạn ráp chữ thư được mà


Ví dụ: e, ê, i


Nhờ E có nghĩa là nhe
Gờ hÌ ta có ôm ghì đầu thôi


có ai nhức đầu hong vậy ?


Thêm câu hỏi cái chữ gì ?
Vì vô đây học nhớ về vần thông


Ví dụ: o, ô, u


Hôm nay trời có mưa to
Nhớ mở nắp hồ cho nước chảy vô (lục bát biến thể )
Đầy rồi thì hứng thêm lu
Phòng khi cúp nước khỏi lo sợ gì


Ví dụ: ai, ay
Mong rằng trời nắng ngày mai
Bao nhiêu bạn đến hăng say làm bài


ai, oi, ôi, ơi, ươi, ui
ao, eo, êu, iêu, iu, ưu


B) Những vần thông có phụ âm đứng cuối tiếng


am, ơm --> đi chung với nhau được
ăm, âm
êm, im
an, ơn
ăn, ân, uân


en, in, iên, uyên
on, ôn, uôn
on, un
ang, ương --> nhưng không đi được với uông


ăng, âng , ưng
ong, ông, ung
uông, ương
anh, ênh, inh --> đi chung với nhau được


2/ Vần thông của vần trắc


é, ị --> đi chung với nhau được
ổ, ũ
ọ, ủa
ĩa, uệ
áo, iễu
ói, ủi
ác, ước
ấc, ực
ạm, ợm
ặn, ẩn
óng, úng
ật, ắt
ật, ứt
út, uốt


** Có bốn điều hệ-trọng nên nhớ trong sự gieo vần quốc-ngữ


1.- Trong sự gieo vần quốc-ngữ, có ba âm: a, ă, â ghép với một phụ-âm c, m, n, p, t thành một âm ghép như:


ac, ăc, âc
am, ăm, âm
an, ăn, ân
ap, ăp, âp
at, ăt,ât


những vần ghép ấy chỉ thông được với nhau khi có cùng một phụ âm đứng trên ví dụ:


Bát thông được với bắt, bất mà không thông được với cắt , cất, mắt, mất
Lam đi với lăm, lâm, nhưng không thông với băm, bâm, trăm, trâm
Quan đi với quăn, quân, nhưng không thông với chăn, chân, nhăn, nhân v.v... Đó là do cách hiệp vận do âm-điệu điều-hoà mà thành lệ


2.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba chữ nguyên-âm với một phụ- âm đứng cuối như: iên, uyên, uân, uôn, thì người ta lấy hai chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên


en, in vần với yên, uyên


ân vần với uân


ơn vần với oan


on vần với uôn


khi có vần ghép bằng hai chữ nguyên-âm với hai chữ phụ-âm như ương, thì người ta lấy ba chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên


ang thông với ương


uông thông với ương nhưng không thông với ang, vì a không thông được với ô


3.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba nguyên-âm thì người ta theo âm điệu mà lấy một hay hai chữ nguyên âm làm vận căn, như:


oa, oe, uê, uy


thì vận căn ở chữ a, e, ê, y, cho nên


oa vần với a


oe vần với e


uê vần với ê


uy vần với i


uây vần với ây


Những vần ia, uya, ua, ưa , thì vận căn lại ở chữ i, y, u, ư mà chữ a đứng ở cuối tiếng không có ảnh-hưởng gì cả .


4.- Hai tiếng đồng âm và đồng nghĩa thì không vần được với nhau, song hai tiếng tuy đồng âm mà khác nghĩa, tức là hai tiếng khác nhau, thì vần với nhau được.
Bài 5:


TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
(Phần cuối)



3. Biến thể của từ


Trong hoạt động của mình, một số từ tiếng Việt có thể có biến động về cấu trúc. Tuy nhiên, cần nói rằng đó không phải là những biến dạng theo nguyên tắc hình thái học như các dạng thức khác nhau của từ trong ngôn ngữ biến hình. Ở đây chúng thường chỉ được coi là dạng lâm thời biến động hoặc dạng "lời nói" của từ. Có nghĩa rằng, những biến động ấy không đều đặn, không thường xuyên ở tất cả mọi từ. Chúng chỉ lâm thời xảy ra ở một số từ trong một số trường hợp sử dụng mà thôi. Đại thể có những dạng biến động như sau:


3.1. Biến một từ có cấu trúc lớn, phức tạp hơn sang cấu trúc nhỏ, đơn giản hơn. Thực chất đây là sự rút gọn một từ dài thành từ ngắn hơn.
Ví dụ:
ki-lô-gam → ki lô/ kí lô/ ký
(ông) cử nhân → (ông) cử
(ông) tú tài → (ông) tú


Xu hướng biến đổi này không có tính bắt buộc, không đều đặn ở mọi từ, và nhiều khi chỉ vì lí do tiết kiệm trong ngôn ngữ. Không phải ngày nay tiếng Việt mới có hiện tượng rút gọn như vậy, mà những cặp từ song song tồn tại giữa một bên là từ đa tiết với một bên là từ đơn tiết chứng tỏ rằng hiện tượng này đã có từ lâu.


Chẳng hạn:
ve ve → ve
bươm bướm → bướm
đom đóm → đóm 


Rất nhiều tên gọi các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo, các danh nhân, địa danh... trong tiếng Việt ngày nay đã được rút gọn lại như vậy. Ví dụ:
Đảng Cộng sản Việt Nam → Đảng
hợp tác xã → hợp


Xu hướng biến đổi một từ đơn giản thành một từ có cấu trúc phức tạp hơn, trong tiếng Việt hiện nay không thấy có. Rất có thể vì nó trái với nguyên tắc tiết kiệm mà người sử dụng ngôn ngữ thường xuyên phải tính đến.


3.2. Lâm thời phá vỡ cấu trúc của từ, phân bố lại yếu tố tạo từ với những yếu tố khác ngoài từ chen vào.
Ví dụ:
khổ sở → lo khổ lo sở
ngặt nghẽo → cười ngặt cười nghẽo
danh lợi
+ ham chuộng → ham danh chuộng lợi


Sự biến đổi theo kiểu này rất đa dạng, nhằm nhiều mục đích. Cũng có khi người nói, với dụng ý ít nhiều mang tính chơi chữ, đã phá vỡ cấu trúc từ để dùng yếu tố tạo từ với tư cách như một từ.
Ví dụ:
tìm hiểu → tìm mà không hiểu
đánh đổ → đánh mãi mà không đổ...